Chào mừng bạn đến với blog của lớp 9/6

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

Hoạt động THÁNG 3



 
         Hội diễn văn nghệ mừng quê hương giải phóng Tam Kỳ và ngày thành lập Đoàn 26/3 vào tối thứ 7(23/3/2013)

Bộ đội tiến vào giải phóng Tam kỳ 24/3/1975
        


      




           Sơ lược vài nét tổng quát về chiến trường Quảng Nam

1- Quảng Nam là địa danh có lịch sử lâu đời. Trải qua bao biến thiên, địch họa, các triều đại vua chúa mở đất xứ Đàng Trong, tạo dựng và khai sáng danh xưng Quảng Nam là minh quân Lê Thánh Tông, đã phát triển và tồn tại đến cuối thiên niên kỷ thứ II, trên 500 năm (1472-2000). Sang thời cận đại, ngày 1 tháng 9 năm 1858, quân Pháp và Tây Ban Nha nổ phát súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Năm 1965, quân Mỹ đưa sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1 đánh vào Đà Nẵng, tiến hành cuộc chiến tranh tội ác gần 20 năm. Nhưng các dân tộc anh em ở mảnh đất Quảng Nam-Đà Nẵng,  muôn người như một, đùm bọc lẫn nhau, chia ngọt sẻ bùi, bền gan chiến đấu, đứng lên chống lại kẻ thù, bảo vệ quê hương, đất nước cho đến ngày toàn thắng.
2- Từ khi có Đảng, Bác Hồ lãnh đạo, nhân dân Quảng nam-Đà Nẵng một lòng theo Đảng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, hết lòng giúp đỡ cán bộ, bộ đội, xây dựng chính quyền nhân dân, đoàn kết một lòng, phụng sự Tổ quốc, không nề hà tiền của, máu xương, cống hiến sức mình vì nghĩa lớn, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của đất nước.
 

                             NGOẠI KHÓA

                        HỌC SINH VÀ TIẾT KIỆM ĐIỆN  


Giờ chào cờ, thứ hai ngày 18/3/2013
                Tham gia thi nghi thức đội và múa hát tập thể
**Phần thi múa hát TT được vào chung kết sáng 23/3/2013**

Đội hình hàng dọc tốt

Tháo, thắt khăn quàng tốt

Đội hình đi đều đẹp

Thi đánh trống ( rất buồn)
Giương cờ, vác cờ tốt

Đội hình chữ U thật tuyệt vời

Thi nhận thức rất tốt
Múa hát TT đẹp


 

***Phần thi nghi thức đội lớp 8/6 có lẽ không đạt cao vì rất buồn cho đội trống và điểm trừ của CĐT nhiều quá.
**Phần thi múa hát TT được vào chung kết.
             ***********************************************
                   
        Bài thuyết minh nghề: BỘ ĐỘI BỘ BINH
                     Lớp 8/6

Chúng em hiện đang là học sinh lớp 8, ít nhiều cũng đã từng nghĩ đến cái nghề mình yêu thích rồi. Có bạn mong ước trở thành bác sĩ, bạn mong được làm kĩ sư, cũng có bạn muốn làm cô giáo mầm non, tiểu học…. Tất cả ước mơ đó đều giúp ích và xây dựng cho đất nước . Còn tôi, rất muốn trở thành một chú bộ đội bộ binh. Màu áo chú bộ đội g         ắn với những con người đã cùng dân tộc Việt Nam trải qua bao thời kỳ gian khó, hiểm nguy. Họ là những người sẵn sàng có mặt ở bất cứ nơi nào Tổ quốc cần.
        Vâng! Bộ đội bộ binh- một nghề khá lạ lẫm, nghe có vẻ gian nan vất vả. Bộ đội bộ binh là những người lính chiến đấu trên bộ với các vũ khí loại nhỏ trong các đơn vị của bộ đội. Vũ khí của các chú thường là sung trường, súng lục, súng đạn…Bộ đội bộ binh đóng một vai trò không nhỏ, là lực lượng chính trong lục quân. Nó là lực lượng để chiếm giữ các vị trí và sự có mặt của bộ binh sẽ giữ được lãnh thổ đó. Trong khi các chiến thuật sử dụng lực lượng trên chiến trường có thể thay đổi thì nhiệm vụ cơ bản của bộ binh vẫn không thay đổi.
         Nhiệm vụ của các chú là tuần tra, bảo vệ, hộ tống…Một nhiệm vụ hết sức quan trọng và thiêng liêng đối với cuộc sống của nhân dân
     Với nghề bộ đội bộ binh này đòi hỏi những con người khỏe mạnh, gan dạ và ý chí  kiên cường nhưng hơn hết vẫn là tấm lòng vì nước, thương dân. Một phẩm chất hết sức cao quý của những nguời lính bộ là trung với Đảng, hiếu với dân, một lòng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

          
      
Nếu là bác sĩ hay kĩ sư thì ít nhiều tối tối cũng được sum họp đoàn tụ với gia đình. Nhưng với bộ đội bộ binh thì không được như vậy, họ phải sống xa gia đình, xa những người thân yêu của mình. Thế nhưng không có nghĩa cuộc sống họ thiếu thốn tình cảm, bù vào đấy là tình cảm của những người anh em, đồng đội, tình quân dân sâu sắc.  


      Chắc ai cũng băn khoăn : Tại sao tôi lại chọn nghề này ? Vâng! Từ nhỏ tôi đã thích được sống tự lập, thích được một lần thử sống xa gia đình và mơ ước mình làm được một điều gì đó có ích cho đất nước. Mơ ước đó càng cháy bỏng hơn khi nghe ông kể về niềm hạnh phúc được làm bộ đội của ông, về cuộc sống ấm áp giữa quân và dân trong những ngày chiến đấu gian khổ. Chắc có lẽ vì thế mà tôi mong muốn trở thành bộ đội bộ binh. Tôi biết con đường đến với nghề và thủy chung với nghề không phải là dễ, đòi hỏi tôi phải bản lĩnh, gan dạ hơn rất nhiều.

       Đến với nghề là cả một sự cố gắng vượt bật. Không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành một anh bộ đội xứng với danh bộ đội cụ hồ, chúng ta phải hoàn thiện nhân cách từ nhỏ. Để đến được với nghề, chúng ta phải trải qua những học kì, những tháng ngày rèn luyện hết sức nghiêm ngặt tại Quân đội nhân dân hoặc các trường quân đội khác.
        Có rất nhiều trường đào tạo nào là: -Trường  Học viện Lục quân Đà Lạt (Học viện quân sự cấp trung), trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, thành lập năm 1999, là học viện đào tạo cán bộ sĩ quan Lục quân cấp chiến thuật, chiến dịch cấp trung đoàn-sư đoàn, các chuyên ngành chỉ huy-tham mưu Lục quân su.
      Trụ sở chính: phường 9, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
      -Trường  Đại học Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1) trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, được thành lập năm 1991, là trường đại học quân sự chuyên đào tạo sĩ quan chiến thuật lục quân cấp phân đội cho các quân khu, quân đoàn phía bắc Việt Nam. Đào tạo sĩ quan Lục quân chiến thuật cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn) trình độ cử nhân khoa học quân sự (đại học và cao đẳng) các chuyên ngành: Binh chủng hợp thành (Tham mưu Lục quân su), Bộ binh, Bộ binh cơ giới, Hỏa khí (chỉ huy kỹ thuật vũ khí), Trinh sát Lục quân.
         Trụ sở chính: xã Cổ Đông, thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
-Trường Đại học Nguyễn Huệ (Trường Sĩ quan Lục quân 2), trực thuộc Bộ quốc phòng Việt Nam, được thành lập năm 1996, là trường đại học quân sự chuyên đào tạo sĩ quan chiến thuật lục quân cấp phân đội cho các quân khu quân đoàn phía nam Việt Nam.
 Trụ sở chính: xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
        Tôi chọn cho mình ngôi Trường Đại học Nguyễn Huệ nằm tại xã Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

    
       Khao khát được làm Bộ đội bộ binh đã thôi thúc ý chí quyết tâm học thật giỏi, trở thành con ngoan, trò giỏi. Tôi thực sự yêu nghề này bởi lẽ đây là một nghề gian khổ mà hết sức thiêng liêng, cao quý – bộ đội bộ binh.

                      ******************************

 Sáng ngày 9/3 Trường chúng ta tổ chức tổng duyệt văn nghệ nhằm chọn ra những tiết mục hay, có ý nghĩa, đặc sắc diễn vào 23/3 để chào mừng ngày giải phóng quê hương, thành lập Đoàn thanh niện cộng sản HCM. Lớp chúng em có tham gia một tiết mục múa
"NƠI ĐẢO XA". Rất là phấn khới khi được BGK đánh giá rất cao, khen nhiều lắm..


            
 
  

               

                          NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8-3

                
                             

                            Ôn lại lịch sử ngày 8-3
      
         Lịch sử ngày 8-3 bắt đầu từ phong trào nữ công nhân nước Mỹ. Cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ. Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp.
 Nhưng bọn chủ tư bản trả lương rất rẻ mạt, giờ giấc làm việc không hạn định cốt sao thu được nhiều sản phẩm cho chúng. Căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8-3 năm 1899, nữ công nhân nước Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại hai thành phố Chi-ca-gô và Nữu Ước. Mặc dù bị bọn tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, bền bỉ đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Cuộc đấu tranh của nữ công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào phụ nữ lao động trên thế giới, đặc biệt phụ nữ ở nước Đức, một nước có kỹ nghệ tiên tiến lúc bấy giờ. Trong phong trào đấu tranh giai cấp lúc đó đa xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi lạc, đó là bà Cla-ra Zet-kin (Đức) và bà Rô-gia Lúc-xăm-bua (Ba Lan). Nhận thức được sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ nên năm 1907, hai bà đã cùng phối hợp với bà Crup-xkai-a (vợ đồng chí Lê-nin) vận động thành lập Ban "Thư ký phụ nữ quốc tế". Bà Cla-ra Zet-kin được cử làm Bí thư.
Năm 1910, Đại hội phụ nữ quốc tế XHCN họp tại Cô-pen-ha-gen (Thủ đô nước Đan Mạch) đã quyết định lấy ngày 8-3 làm ngày "Quốc tế phụ nữ", ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với những khẩu hiệu:
- Ngày làm 8 giờ.
- Việc làm ngang nhau.
- Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
Từ đó ngày 8/3 trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động trên toàn thế giới, là biểu dương ý chí đấu tranh của phụ nữ khắp nơi trên thế giới đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội; vì quyền lợi hạnh phúc của phụ nữ và nhi đồng.
Ở nước ta, vào ngày 8/3 còn là dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – hai vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ nguyên bờ cõi, giang sơn đất Việt.
Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa. Lời hịch thiêng liêng “Đền nợ nước, trả thù nhà” đã nhận được sự hưởng ứng của các Lạc hầu, Lạc tướng, của những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa. Man Thiện (mẹ của Hai Bà Trưng), bà Lê Chân (Hải Phòng), bà Bát Màn (Thái Bình), bà Lê Thị Hoa (Thanh Hóa), bà Thánh Thiện (Hà Bắc)… ý chí kiên cường và lòng yêu nước của Hai Bà đã được đúc kết lại bằng những vần thơ bất hủ:
       “Một xin rửa sạch nước thù
       Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
       Ba kẻo oan ức lòng chồng
       Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã lan rộng khắp nơi. Trong một thời gian ngắn, dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà, nghĩa quân đã đập tan chính quyền đô hộ. Tên tướng đô hộ là Tô Định phải cải trang bằng cách cắt tóc, cạo râu tìm đường tẩu thoát về nước.
Bà Trưng Trắc được các tướng lĩnh và nhân dân suy tôn làm vua. Bà lên ngôi và lấy niên hiệu là Trưng Nữ Vương; đóng đô ở Mê Linh (huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).
Năm 42, nhà Hán lại kéo quân sang xâm lược nước ta. Hai Bà lại một lần nữa ra quân, phất cờ khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần này chỉ kéo dài được 2 năm do thế và lực của ta và địch chênh lệch quá lớn. Hai Bà đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh anh dũng để giữ tròn khí tiết của mình, bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc.

Mặc dù chỉ giành độc lập trong thời gian ngắn nhưng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần dân tộc cao cả. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng còn là một minh chứng cho sức mạnh lớn lao, khả năng dồi dào của người phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trang sử oanh liệt này sẽ mãi mãi được lưu truyền cho muôn đời con cháu mai sau.





Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

 


TÌM HIỂU VỀ TẾT NGUYÊN TIÊU

Tết Nguyên Tiêu hay tết Thượng Nguyên là một tết, lễ hội cổ truyền của Trung Quốc vào ngày 15 (ngày rằm) tháng giêng Âm lịch.

Tết này phần lớn tổ chức tại chùa, vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ.[cần dẫn nguồn] Vào ngày này, cũng có gia đình Việt Nam tụ tập ở nhà trưởng họ hoặc nhà thờ họ.

Theo sách Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên không phải là một ngày lễ Phật. Trước đây chính là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ.

Tết Nguyên tiêu ở Việt Nam

      Rằm Tháng Giêng ở Việt Nam xa dần điển tích nguyên thủy của Trung Hoa mà nhập vào Phật giáo. Dù kinh điển nhà Phật không nói đến ngày rằm Tháng Giêng nhưng trong dân chúng thì đây là dịp lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điềm lành.

Các chùa thường tụng kinh Dược Sư và khuyên các Phật tử cùng tụng niệm và hồi hướng công đức để thế giới được an lành.

Nhân dịp tết nguyên tiêu này Trường THCS có tổ chức thi vẽ ở lớp 6,7; thi viết thư pháp ớ các khối lớp;thi làm thơ ở các khối lớp.
 Lớp thi làm thơ là bạn Thúy Vy; thi viết thư pháp là bạn Hương Trinh


        Những ngày đầu tiên của năm mới QUÝ TỴ 2013 của 8/6


 Vào những ngày đầu tiên của năm mới QÚY TỴ 2013 lớp chúng tôi gặp lại nhau nói chưa hết về ngày tết, bất ngờ lại phải chịu một nỗi buồn. Bạn Phạm Thế Minh Dũng cùng với gia đình phải đi đến một nơi rất xa (đi nước ngoài), đây là niềm vui của gia đình Dũng và là nỗi buồn của lớp chúng tôi.
Bạn Dũng là người hiền lành, ngoan ngoãn,  dễ thương lại chăm học.

Buổi chia tay rất xúc động.

Lớp trưởng tôi  nghẹn ngào cùng với những giọt nước mắt với người bạn này

Ba của bạn Dũng cảm ơm những tình cảm của Cô và lớp dành cho Dũng, dặn dò và có những lời chúc tốt đẹp cho lớp trong thời gian còn lại.

Bạn Dũng nói không nên lời với lớp lần cuối.

Cô chủ nhiệm rất cảm động trong giờ chia tay.


Cô tặng quà Dũng làm kỷ niệm.
Lớp cũng có món quà.

Bảo Ngọc và Thúy Vy hát tặng Dũng một bài hát nhưng hát không nên lời...
 


Ban phân hội tâm sự với Ba Dũng thật tình cảm.



.
MỪNG XUÂN QUÝ TỴ 2013



Lịch sử

Chữ "Tết" do chữ "Tiết" (節) mà thành.[3] Hai chữ "Nguyên đán" () có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán".[3] Tết Nguyên đán được người Trung Hoa hiện nay gọi là "Xuân Tiết" (春節) hoặc "Nông lịch tân niên" (農曆新年), và vẫn là tết cổ truyền của họ,[4] mặc dù từ năm 1949, Trung Quốc đã chính thức chuyển qua dùng dương lịch và chuyển qua gọi Tết dương lịch là Tết Nguyên đán.[5]
Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ.[6] Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.[6] Đời Đông ChuKhổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà HánHán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.[3]
Trước năm 1967, Việt Nam lấy múi giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờGMT+7 làm chuẩn. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền nam thì ngày 30 tháng 1).[7]
Ngày nay, người Việt Nam ta quan niệm rằng trong ngày Tết thì tất cả mọi thứ đều phải thật sớm và mới.[8] Do đó trước ngày Tết khoảng hơn 2 tuần, các gia đình đã sắm sửa cho ngày Tết. Họ thường quét dọn, trang trí nhà cửa, mua hoa, sắm thức ăn... thật chu đáo cho ngày Tết.[8] Ngoài ra, tất cả những vật dụng không cần thiết hoặc bị cho là đem lại điềm gở cũng bị vứt bỏ.[8]

Các giai đoạn chính trong Tết

Cuối năm


Một gia đình đang gói bánh chưng chuẩn bị cho ngày Tết Âm lịch.
Công việc sửa soạn cho ngày Tết của người Việt thường bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, là ngày mà người Việt cúng ông Táo (Táo quân). Theo quan điểm của người Việt thì ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà con người đã làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề tốt xấu của gia chủ. Ông Táo được cúng vào trưa hoặc chiều ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm. Lễ cúng gồm có hương, nến, hoa quả, vàng mã và hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà kèm theo ba con cá chép (cá chép thật hoặc cá chép làm bằng giấy kèm theo cỗ mũ). Theo sự tích ông Táo, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng. Một số gia đình ở nông thôn vẫn còn gìn giữ phong tục dựng cây nêu, trong khi ở thành phố, phong tục này đã bị lãng quên.[9] Theo phong tục, cây nêu được dựng lên để chống lại quỷ dữ và những điềm gở.[10] Cây nêu thường được treo hoặc trang trí thêm những thứ được coi là để dọa ma quỷ như: tỏi, xương rồng, hình nộm và lá dứa.[11] Trước ngày Tết, người Việt cũng chuẩn bị bánh chưng, bánh dầy và các món ăn thịnh soạn để dâng lên ông bà tổ tiên.[12]Tất niên
Bài chi tiết: Tất niên
Ngày Tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giênggiờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó, thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết, đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thuờng làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang, không nơi nương tựa.
Một cụ già mặc áo the để cúng tất niên.
Sắp dọn bàn thờ: Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Tuỳ theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Cũng có nhà cắm "cành vàng lá ngọc" (một thứ hàng mã) với cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán lãi gấp 5 hoặc gấp 10 lần năm trước. Ở giữa có trục "vũ trụ" là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó), phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới...

Giao thừa


Ông đồ viết chữ lên giấy dó
Bài chi tiết: Giao thừa
Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Dịp này, người ta thường bắn pháo hoa ở những địa điểm rộng rãi, thoáng mát.[13]
Cúng Giao thừa (hay lễ Trừ tịch): là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến.[14]



KỶ NIỆM 83 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG 
3/2/1930 - 3/2/2013





(ĐCSVN) - Cuối thế kỷ XIX, sau khi bình định xong Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay thực thi các chính sách thực dân hà khắc, biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. 
     Sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp đã làm cho mâu thuẫn dân tộc diễn ra hết sức gay gắt, hàng loạt phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau liên tiếp nổ ra nhằm giải quyết mâu thuẫn chủ yếu đó. Tiêu biểu là phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu; phong trào cải cách của Phan Chu Trinh, khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo...Các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tuy diễn ra quyết liệt, song cuối cùng đều bị thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo có khả năng tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc. 
     Trong bối cảnh đó, tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Năm 1920 Nguyễn Tất Thành- Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác- Lê nin; đây không chỉ là bước ngoặt đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, mà còn là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết phải có “Đảng cách mệnh” để “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Từ nhận thức đó Nguyễn Ái Quốc ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam, Người từng bước truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lê nin vào trong nước, đưa phong trào công nhân chuyển dần từ trình độ tự phát lên tự giác; đưa phong trào yêu nước chuyển dần sang lập trường cộng sản. 
     Tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập ở số nhà 5D, Hàm Long, Hà Nội, gồm có Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Văn Tuân và Dương Hạc Đính. 
     Ngày 1-5-1929, tại Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hương Cảng, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đưa ra đề nghị thành lập Đảng Cộng sản. Đề nghị dó không được chấp nhận, trở về nước, ngày 17-6-1929, những đảng viên trong Chi bộ Cộng sản 5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Ngày 25-7-1929 An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ. Tháng 9-1929 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ. 
     Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một Đảng thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. 
     Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu DDCSD); Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm (đại biểu (ANCSĐ). Đại biểu ĐDCSLĐ không đến kịp. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930 trở thành Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. 
     Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng. Đảng được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm cuả sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. 
     Đó là một mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. 
     Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta... 
     Câu nói của Bác:






   
 "Lao động là vinh quang".
Ngày lao động của cuối năm 2012